Showing posts with label - Thầy Trò. Show all posts
Showing posts with label - Thầy Trò. Show all posts

Friday, October 24, 2014

HỘI NGỘ LỮ THANH TUYẾT


(Xin bấm vào hình để xem lớn hơn) 
Theo thông lệ của cựu học sinh Nguyễn Huệ Bắc California là mỗi lần có bạn đồng môn hoặc đồng hương Phú Yên ghé thăm thung lũng hoa vàng San Jose thì gia đình Nguyễn Huệ thường tổ chức buổi họp mặt bỏ túi để đón mừng khách quí từ phương xa đến . Trường hợp Lữ Thanh Tuyết cũng không ngoại lệ; chị đến từ Phú Yên, Việt Nam, theo diện du lịch Hoa Kỳ, do người em trai ở Nam Cali bảo lãnh.
 Hôm Thứ Sáu 03-10-2014  vừa qua, nhóm chúng tôi kéo đến nhà hàng Thiên Long, nơi nổi tiếng có nhiều món ăn Việt Nam thuộc hạng ngon nhất ở đây.
Vì thông báo quá trễ, chỉ trước có hai ngày, nên số anh chị em tham dự tương đối ít, nhưng bù lại rất vui nhộn và thân thiện.
Những ai từng ở thành phố Tuy Hòa vào thập niên 60 – 70 hầu hết đều biết gia đình chị Lữ Thanh Tuyết (tiệm gạo Huê Nam) nằm trên đường Trần Hưng Đạo, kế bên chợ mới.
Chị Thanh Tuyết, chị Lan Anh với tôi không những cùng học chung trường Nguyễn Huệ, mà chúng tôi còn cùng học với nhau từ lớp năm đến lớp nhất ở trường Nữ Tiểu Học. Coi như thân nhau từ tấm bé.
Thời gian trôi qua… mỗi đứa mỗi đường, mỗi người một hướng đi riêng. Tôi nghỉ học, lên xe hoa về nhà chồng; Lan Anh vào Saigon học cán sự y tế; còn Thanh Tuyết cuối năm Đệ Nhị đành phải nghỉ ở nhà phụ cha mẹ buôn bán, lo cho đàn em tiếp tục con đường học vấn.
Thật không ngờ trải qua bao dâu bể, giờ này chúng tôi còn được gặp nhau, nhìn thấy nhau hôm nay, bồi hồi xúc động, mừng mừng, tủi tủi.
Trong lúc chúng tôi vừa nhâm nhi vừa nói chuyện, Thanh Tuyết nhìn tôi thật lâu rồi nói: “Phước à! Nếu gặp nhau ngoài đường chắc chắn không thể nào nhận ra nhau đâu; sao bây giờ mình già quá vậy nè”…  Tôi trả lời: “Nói gì vậy Tuyết, hơn nửa thế kỷ rồi không già, không khác mới là chuyện lạ; bọn mình sắp sửa có chắt gọi bằng ông bà cố rồi mà, làm sao không già cho được”.
Nói là nói vậy chứ khi nhìn thấy Thanh Tuyết tôi đã nhận ra ngay. Vẫn còn nét thanh tú ngày xưa, đôi mắt to, nụ cười hiền hòa, nói năng chậm rãi, và nhất là tình bạn, tình đồng môn, đồng hương vẫn còn sống mãi trong lòng chúng ta. Đó là điều quí giá nhất. Anh Hiền lên tiếng: “chị Tuyết còn nhớ tôi không”, Tuyết còn đang ngờ ngợ chưa kịp trả lờithì anh nói đùa: “Phạm Đức Hiền ngày xưa nổi tiếng học giỏi, đẹp trai nhất vùng mà chị không nhớ là thua rồi”. Chúng tôi phải lôi ra nào tên cha mẹ, anh em họ hàng lúc đó Tuyết mới nói: “À! Nhớ ra rồi, biệt thự "Tứ Mỹ", nhưng anh còn thiếu ba chữ "con nhà giầu", vì hồi đó gia đình anh thuộc tầng lớp "đại gia" mà”. Anh Đặng Đình Khuê pha trò: “Ngày xưa

tụi tôi nối gót theo sau chị mỗi khi tan trường mà chị quên rồi sao? Thật là quá vô tình”. Tôi tiếp lời Lan Anh nói: “Hồi đó nó cũng để ý đến anh Hiền nữa đấy phải vậy không Lan Anh?” Lan Anh cười và nói lớn: “đúng rồi! đúng rồi!” Cả bọn cùng cười vang. Vui thật là vui.
Thanh Tuyết kể ở Tuy Hòa dạo này đi đến đâu cũng nghe xôn xao, rộn ràng bàn tán chuyện chuẩn bị nộp đơn xin đi Mỹ để tham dự đại hội cựu HSPY.
Tuyết nói: “Mình may mắn được cậu em trai bảo lãnh sang du lịch, mình sẽ xin gia hạn và bằng mọi cách để được tham dự đại hội vì đó là niềm mơ ước của mình. Năm 2013, đại hội kỳ 4 tổ chức tại Nam Cali, mình có làm đơn nhưng phỏng vấn bị rớt, buồn ơi là buồn. Các anh chị em bên nhà sang bên này tham dự về kể lại nghe ham lắm, thích lắm, người nào cũng muốn đi hết.”
Tôi nói: “Tuyết đi là đúng lắm vì kỳ 5 này ban tổ chức sẽ cố gắng tạo nhiều tiết mục thật hay, mới lạ, hấp dẫn để phục vụ quí thầy cô cùng tất cả anh chị em đồng môn, đồng hương Phú Yên vào tháng 6-2015 tại thành phố du lịch New Orleans, Louisiana. Không đi là ‘mất quyền lợi’, uổng lắm đó Tuyết à. Phái đoàn San Jose đi đông lắm, trên 50 người.”
Ông bà Hội trưởng Hội Ái Hữu Phú Yên Bắc Cali Hà Ngọc Quỳnh cũng góp mặt trong chuyến này, mặc dù rất bận rộn công việc làm ăn của mình. Thầy Cô Ngô Càng Phương, cựu giáo sư trường Bồ Đề, anh chị Phạm Hoàng & Vương Hạnh trường Nguyễn Huệ cũng đã ghi danh tham dự, toàn những tên tuổi lớn đều có mặt trong đại hội kỳ 5. Thanh Tuyết nghe tôi quảng cáo như thế chị vui mừng lắm nói ngay: “ Phải đi chứ, biết bao giờ mới có được dịp may như thế này, nghĩ đến giây phút sẽ gặp được thầy cô, bạn bè cùng trường cùng lớp ngày xưa lưu lạc khắp bốn phương trời lòng cảm thấy hân hoan vui sướng vô
cùng.”
Chúng tôi hỏi thăm chuyện gia đình, công việc làm ăn của chị thì chị buồn buồn nói: “Ông xã mình mất đến nay đã 26 năm rồi; mình ở vậy thờ chồng nuôi con, được 4 đứa: 2 trai 2 gái; các con của mình đều đã trưởng thành, công việc làm ăn cũng tạm ổn, mấy mẹ con đùm bọc nhau mà sống, ơn trên thương mọi điều cũng được suông sẻ tốt đẹp”. Chúng tôi rất mừng cho chị.
Vì là chiều Thứ Sáu cuối tuần nên nhà hàng rất đông thực khách quá, họ đang đứng đợi xếp hàng dài ngoài cửa nên chúng tôi đành tạm chia tay nhau, hẹn sẽ gặp lại. Bạn bè, thân hữu khắp nơi nếu ai muốn thăm hỏi chị Lữ Thanh Tuyết thì xin cứ tự nhiên gọi về số phone (669) 900-3256, Lữ Thanh Tuyết sẽ rất vui mừng.
Tôi xin mách nhỏ điều này: chị Thanh Tuyết hiện giờ là “single mom”, nấu ăn rất ngon, nhất là món Tuy Hòa, đậm đà quê hương. Quí vị nào còn “độc thân” muốn nhờ chị Tuyết “nấu cơm dùm” thì cứ mạnh dạn gọi phone cho chị Thanh Tuyết nhé!

San Jose, tháng 10-2014
Thanh Phước

Friday, August 22, 2014

TÌNH YÊU PHƯỚC NHƯỢNG


"PHƯỚC" này chẳng "NHƯỢNG" cho ai,
Chỉ dành riêng NHƯỢNG một người PHƯỚC thương.
Yêu nhau từ thuở chung trường,
Năm mươi năm ấy yêu thương mặn nồng.
Trải bao gian khó chất chồng,
Tình yêu PHƯỚC NHƯỢNG vẫn không đổi dời.
Yêu nhau đâu kể tuổi trời,
Tình theo năm tháng càng tươi càng nồng.
Mừng bà đã có được ông,
Khen ông cũng chẳng phụ lòng người thương.
Năm mươi năm – một chặng đường,
Độ yêu đôi lứa dễ thường mấy ai?!
Mùa Xuân còn mãi đất trời,
Tình yêu NHƯỢNG PHƯỚC trọn đời nở hoa.

Thân mến tặng Nhượng Phước nhân kỷ niệm 50 năm ngày cưới của hai em,

Sacto June 16 – 2013

Thầy cô Nguyễn Đình Quỹ.


 

Monday, April 28, 2014

ÁO DÀI ƠI !



Chủ  nhật. Siêu thị X.
Đang sắp hàng trước quầy thu ngân, người khách phía trước loay hoay rớt đồ tứ tung. Tôi cúi xuống nhặt giùm. Trời đất! X Lan.Về hồi nào? Khỏi phải nói cuộc gặp gỡ của chúng tôi hoành tráng cỡ nào vì cả hai từng có chung một thứ, tiếng cười của lớp học toàn con gái. Lục tung trí nhớ. Chịu. Tôi chẳng thể nào nhớ hết 54 cái tên trên sơ đồ Gia đình 9A. Lướt qua lướt lại mấy vòng đành dừng lại ở con số gần 30. Phải thán phục X Lan.  Trải qua rất nhiều biến động, chồng con, chỗ ở. Di chuyển từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, vẫn giữ nguyên những tấm hình từ tiểu học đến cấp ba và giờ lại một trang web đầy ắp kỷ niệm.
Trường cấp II Nguyễn Huệ nằm trên đường dẫn ra biển. Con đường hẹp, dài có hai hàng phi lao chạy từ ga xe lửa đến tận những cồn cát cao. Chia tay bộ đồng phục trắng tiểu học, chúng tôi hăm hở khoác áo dài. Mỗi Thứ Hai, nữ sinh mặc áo dài xanh thiên thanh; những ngày còn lại mặc áo dài trắng. Khối lớp 6 cũng có lớp nam nữ học chung, không hiểu sao lớp tôi toàn con gái. Trong xếp hạng “thứ 3 học trò”, bạn đừng nghĩ chỉ ám chỉ con trai, con gái tụ tập với nhau không chừng còn “nhỉnh” hơn rất nhiều. Điều đó đúng đối với lớp tôi từ 6A tới 9A, bốn năm đình đám khó quên nhất.
Tôi đắn đo không biết nên sử dụng tên thật, hay viết tắt. Dùng tên thật, các nữ sinh ngày ấy (giờ đã là bà nội, bà ngoại) sẽ la oai oái. Còn tên hư cấu thì sẽ không đủ sức tạo ấn tượng. Suy nghĩ mãi tôi và X Lan đồng ý để tên thật. Xét cho cùng kỷ niệm đâu có tội tình gì. Chúng tôi không đứa nào được gọi đúng tên của mình. Tên dù chẳng trùng nhau, cũng được đặt thêm một từ cho dễ nhớ, như X Lan “Bé Tí” (tên ở nhà), Vui “Diễm Trang” (nhà tiệm may Diễm Trang), Hạnh “Chè Lạnh” (nhà bán chè lạnh), còn tôi không được trắng lắm bị đặt là “Quang Chà” (đen như chà và). Thiệt thòi nhất là Ng.  Ng hiền, người nhỏ con, nhà có quán cà phê tên “Bồng Lai Tửu Quán”. Tụi tôi đi học sớm, lấm lét canh không có ai thì liền che nón hô to: “Bồng lên để xuống- “Bồng lên để xuống”. Ba Ng chạy ra, cầm cái chổi lông gà y như cầm lệnh tiễn, ngó quanh quất chỉ thấy mấy cái bóng áo dài vụt qua chưởi om sòm. Từ đó chết tên Ng “Bồng lên để xuống”.
Cỡ lớp 8, lớp 9 thường có mấy anh trường khác lạng qua, lạng lại. Tìm hiểu mấy anh cũng có những cái tên đầy ấn tượng như: “Trực Bida”, “Hồng Nem”, “Lâm Cu Tím”, “Hòa Lác”… “Bida” hay “nem” thì hiểu ngay; riêng “cu tím” hay “lác” thì hơi thắc mắc hổng lẽ…của nó tím, hay lác chỗ nào?
Khó nhất là tên các thầy, những biệt danh nhỡ tới tai. Thôi thì xin quí thầy tha thứ, có mắng thì mắng tụi 9A ngày trước, còn bây giờ tụi em vô can. X Lan cười hì hì, hay! Ý kiến hay! Đầu năm lớp 6, thầy Tín vừa dạy văn vừa làm giáo sư hướng dẫn. Thầy người Huế môi đỏ như con gái. Vẫn thói quen thời tiểu học, cả lớp ồn như cái chợ. Thầy Tín hay đỏ mặt la: “Ê! Ê! Lên bảng”. Nghĩa là phải quay mặt vào tường suốt giờ học, cả lớp không đứa nào thoát. Chúng tôi lén bỏ cát vào bình xăng xe vespa  của thầy, cuối giờ tan học thầy đạp văng khói xe vẫn không nổ. Chắc thầy không ngờ thủ phạm là 6A.
Tổng giám thị khi ấy là thầy Toản. Thầy Toản lưng đi thẳng tắp, giọng bắc sang sảng, sáng Thứ Hai phát biểu dưới cờ, cả trường sợ xanh mặt. Hai phụ tá của thầy là thầy Nhi và thầy Trĩ. Thầy Trĩ hiền, ăn mặc xuề xòa, lưng quần cái nào cũng rộng đóng thùng áo không lòi trước cũng lòi sau. Ngược lại thầy Nhi tóc luôn chải brillantine bóng mượt, mắt thường đeo kính đen. Thầy Nhi có lối nói chuyện tưng tửng, nhiều lúc đang bị phạt, nhịn cười không nổi.
Năm lớp 7, chúng tôi bị dính vào một scandal động trời. “Ng Bồng lên để xuống” hiền vậy, không hiểu sao lại sáng tác một thông báo chết người:
-Ngày mai trường Nguyễn Huệ có cuộc họp quan trọng. Tất cả giáo sư [1] phải đi họp đúng giờ. Giáo sư nào đến trễ hay vắng mặt, sẽ bị phạt 5 hèo (roi).
Ký tên: Hiệu trưởng Đ.T.K Ng. Tiếp theo sau là chữ ký của 10 giáo sư dỏm, trong đó có tôi.
Hôm đó thầy Nhi tình cờ đi ngang lớp, tờ thông báo rơi xuống vào tay thầy:
-Tụi này hỗn láo, dám đem các thầy cô ra giễu cợt, lên văn phòng gấp!
Cả ban giám hiệu dỏm mặt mày méo xệch, tim đập thình thịch nặng nề rời lớp. Những đứa còn lại thì thầm:
-Kỳ này tụi mày chết!
Cả bọn đứng dồn cục trước cửa văn phòng, thầy Nhi ra lệnh:
-Sắp hàng một. Không. Quỳ thành hàng một.
Nhìn đứa này dúi mặt vào lưng đứa kia, không đứa nào dám chường mặt ra, thầy to tiếng:
-Hiệu trưởng quỳ trước, giáo sư quỳ sau.
Đã vậy thầy còn đế thêm:
-Ông Trĩ à! Ông Giang đang làm hiệu trưởng, trên lại đổi bà hiệu trưởng mới về, sao mình không hay biết vậy cà?
Đang rầu thúi ruột, tụi tôi cũng không nhịn cười được, dù chỉ cười khục khặc không ra tiếng. Hôm sau, ban giám hiệu “dỏm” bị ban giám hiệu “thật” cảnh cáo toàn trường và mỗi giáo sư bị chép phạt 100 lần:
-Em không được đem thầy cô ra giễu cợt.
Phạt cũng nhẹ. Hú vía!   
Toàn con gái chẳng một mống con trai cứ thế bày đủ trò, không chút mắc cỡ. Đến lớp 9 thì những trò quậy phá tăng dần theo cấp số nhân. Hai dãy bàn đầu, chúng tôi lập ban hợp ca “Hoa Hồng”. Ra chợ mua một cặp bông tai kết bằng hoa hồng vải, tách ra mỗi đứa cài một cái trên ngực (Nói cho oai, chứ ra khỏi trường mới dám cài cũng chỉ để lấy le với đám nhóc lớp 6, 7). Giờ ra chơi, thay vì chạy nhảy ngoài sân, chúng tôi kéo cả lớp ở lại chia làm hai phe hợp ca. Không chỉ hát ong óng, còn đập mạnh hai tay trên bàn; khỏi phải nói, ồn cỡ nào. Các bài tủ của chúng tôi lúc bấy giờ là: “Khỏe Vì Nước”, “Dừng Bước Giang Hồ”, “Túp Lều Lý Tưởng”… Nói chung càng giựt nhiều càng tốt.
Bên A hát: “Khỏe vì nước, bánh ướt chấm nước tương”.
Bên B phụ họa: “Nước tương!” “Nước tương!”
Hay bên B: “Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa”.
A phụ họa: “Quán xưa!”  “Quán xưa!”
Hát trong giờ ra chơi thì không sao, nhưng có một sự cố buộc chúng tôi phải chừa luôn trò hợp ca. Hôm đó thầy Quát dạy văn nghỉ đột xuất, lại chia làm hai phe & lần này là bài “Túp Lều Lý Tưởng”.
A: “Từ ngày hai đứa yêu nhau mộng ước thật nhiều”.
B: “Thật nhiều!”  “Thật nhiều!’.
A: “Từ ngày hai đứa yêu nhau lòng ước bao nhiêu”.
B: “Bao nhiêu!’  “Bao nhiêu!”
Đến đoạn giữa cao trào cả A lẫn B cùng rống: “Túp lều lý tưởng”… 54 cái miệng há to hết cỡ, gân cổ kéo chằng chịt, tay đập ầm ầm mặt bàn thì thầy Nhi cầm cây thước dài xuất hiện, bám sát theo sau là thầy Trĩ hét: “Tụi bay phá trường?”. Cả lớp tông hai thầy lạng quạng suýt té, chạy ù ra sân. Sân rộng, chỗ nào cũng thấy áo trắng, hai thầy hoa cả mắt chẳng bắt được đứa nào. Thầy Toản thì đứng ở văn phòng cầm micro hét lớn:
-Mấy con kia đứng lại! Tụi bay chạy như đèn cù, chóng mặt quá.
Kết quả, cả lớp bị quỳ suốt hai tiếng dưới cột cờ. Nghĩ lại, thấy tội mấy đứa hiền thường bị phạt oan uổng vì bọn tôi.
Dàn hợp ca chưa lên đã bị quỳ. Tôi, X Lan, M Vui, lại thành lập ban tam ca “Sao Xẹt”. Những giọng ca không tên không tuổi, điếc không sợ súng, đi hát cùng khắp thị xã. Tôi có người em họ tên Vinh cũng học trường Nguyễn Huệ. Văn nghệ trường,  hai chị em thường hát song ca. Mỗi khi nghe xướng tên: Đây đôi song ca “Quang Vinh” là khoái chí, mũi nở to như trái cà chua, tưởng tượng mình là Lê Uyên Phương dù giọng thường đi trước, nhịp trật đường rầy theo sau.   
Sự nghiệp ca hát của chúng tôi dừng lại giữa năm lớp 9, vì phải học kèm toán & sinh ngữ hai là pháp văn, chuẩn bị lên lớp 10. Thầy Hưởng (ba của thầy Ngô Liên Phương) không dạy ở trường Nguyễn Huệ nhưng nổi tiếng hai môn này. Chủ nhật hàng tuần, chúng tôi đạp xe xuống đường Lê Lợi,  đi qua mấy cái ngõ quanh co đầy dâm bụt mới tới nhà thầy. Không chỉ dạy dễ hiểu, sinh động, lũ nhóc còn cười nghiêng ngửa vì cách nói chuyện thâm thúy, đặc biệt tiếu lâm của thầy. Có lần đang giải toán, chúng tôi nhai kẹo chewing gum chách chách. Đập mạnh cây thước trên bàn đến lần thứ ba vẫn còn tiếng chách chách, thầy từ tốn nhìn xuống:
-Các trò có biết đang nhai gì không? Đó là da của mấy thằng Mỹ. Hên thì trúng da mặt, da tay. Vô phúc đứa nào trúng chỗ nách, chỗ…chỗ…đó, chết cha tụi bay. Thừa biết chewing gum làm bằng gì, nhưng bọn nhóc cũng phun không kịp thở.
Học kèm ở nhà thầy Hưởng còn có bọn con trai. Đức “bồi” giỏi toán, nhưng pháp văn thì thuộc hạng trời ơi, nghĩa là dở tệ. Hôm nào giải toán bí hỏi Đức không trả lời, giờ Pháp văn tụi tôi trả thù không thèm nhắc. Một lần, thay vì “bonjour monsieur”, Đức quýnh quáng xổ tiếng bồi: “Bonjour me xừ”. Thầy Hưởng vỗ vai:
- Đức! Thầy biết  trò có bà con với một thằng.
Cả lớp nhao nhao: Thằng nào, thằng nào? Thầy Hưởng tủm tỉm:
-Bồi bàn bưng ra con gà. Khách hỏi: Bộ lòng đâu? Bồi trả lời:
- Mè xừ chút chít manger- Mõi ne pas động đậy! (chuột nó ăn, tôi không đụng đến).
Cả lớp cười ầm ĩ, Đức quay xuống nhìn chúng tôi lầm bầm:
-Đồ “phẻn bậu!” (cách nói dân PY, phản bội).       
Tết năm đó, khối lớp 9 tập trung làm đặc san xuân. Tôi trong ban biên tập lấy bút hiệu là “Cung Trầm”. Bài vở được thầy cô duyệt xong, không hiểu sao khi quay ronéo lại có thêm một bài ký tên “Cung Bổng”. Chắc chắn người đưa bài vào phải trong ban biên tập. Tôi la làng:
-Ông  nào chơi xỏ tui? Bộ hết tên đặt hả?
Cư lớp 9B gãi tai lúng búng: Tui… tui… đặt.
Tin thằng “Cu Cư” (Hồi nhỏ tên Cu, đi học thêm dấu móc thành Cư) mết con “Quang Chà” lan rộng cả trường; báo hại mấy tháng liền giờ ra chơi tôi không dám ra khỏi lớp. Thật lòng mà nói, tôi cũng có để ý thằng “Cu Cư” vì tướng tá coi cũng được, lại học giỏi, chỉ phải tội có cái tên hơi...kỳ kỳ.      
Tuổi 14,15 trôi đi êm đềm dù đang thời chiến. Mỗi đêm tiếng đại bác từ đỉnh Chóp Chài vẫn ì ầm vọng về thị xã. Chiến tranh hằn lên trong ánh mắt lo âu của người lớn, còn bọn con nít chúng tôi mặt trận như còn ở đâu đó xa, xa lắm. Thế giới của chúng tôi chỉ là lớp học nhỏ, nhưng đầy tiếng cười lớn. Không gian vừa đủ để yêu thương. Ngày nay dù có kẻ giàu người nghèo, kẻ thành đạt, người lận đận, nhưng tất cả nữ sinh lớp 9A ngày trước đều thành người lương thiện. Nếu thời gian có quay trở lại, chưa chắc các con nhóc tuổi teen ngày ấy quậy thua teen bây giờ. Đó là cái quậy “sạch”, trong trẻo hồn nhiên của bất kỳ đứa trẻ nào trong độ tuổi ấy, còn teen bây giờ….. 
Chỉ cần gõ bốn từ “nữ sinh đánh nhau”, chưa tới một giây đã hiện ra vô số video clip nói về hiện tượng này. Không chỉ một vài trường hợp cá biệt, hầu như địa phương nào cũng có những trận hỗn chiến giữa các nữ sinh. Nhìn nạn nhân mặc chiếc áo dài trắng bị xé rách nham nhở, một áo dài trắng khác giơ điện thoại ghi hình, nhóm áo dài còn lại cổ vũ:” Đánh đi! Đánh nữa đi!”. Tôi & X.Lan lặng người. Ai dám chắc những tà áo dài bị vấy bẩn bạo lực kia sẽ trở thành mẹ, thành bà lương thiện ngày mai? Nhưng lỗi hình như không phải hoàn toàn nơi các em.
Thế hệ chúng tôi không có internet, iphone, ipad…là điều thiệt thòi hay may mắn? Bây giờ, các phương tiện hiện đại mở toang cánh cửa thế giới bên ngoài, nên các em giỏi hơn, nhưng đồng thời cũng tiếp cận cái xấu với vận tốc cực nhanh. Việc sàng lọc cái tốt lại vượt ngoài khả năng những con người còn non nớt. Ngay cả người lớn chúng ta cũng bội thực vì các tin bạo lực dày đặc trên mạng, thì làm sao bịt được mắt các em.
Sự hơn thua và vô cảm của không ít người lớn cũng vô tình tiếp tay cho bạo lực. Khi nào còn những phụ huynh cố đạp sập cổng trường, lấy cho bằng được một suất học tốt nhất cho con. Khi nào còn những bà mẹ có con gái gây thương tích cho người khác lại phát biểu, chuyện con nít tôi không biết gì. Thì việc dùng nắm đấm để khẳng định  “Tao phải thắng”, “ Tao là số 1”, hay thản nhiên quay phim, vỗ tay khi người khác bị hạ nhục sẽ còn xuất hiện dài dài, không chừng vụ sau còn tàn bạo hơn vụ trước.
Trường học cũng không còn là chỗ an toàn cho các em. Chỉ cần một cái nhìn đểu, giựt bồ của nhau, điện thoại xịn hơn…, những lý do lãng nhách này cũng được giải quyết, thanh toán nhau như giang hồ thứ thiệt. Cổng trường nào cũng đông đúc phụ huynh đưa đón con. Quản thì quản, nhưng nhiều lúc cũng không ngờ được, bạo lực lắm lúc lại xảy ra tại lớp học ngay dưới cái bảng “Tiên học lễ, hậu học văn”.      
Không thể so sánh tuổi mới lớn ngày xưa với tuổi mới lớn bây giờ. Các em có nhiều thứ trước đây chúng tôi chưa từng có, lớn lên trong thời bình, công nghệ thông tin hiện đại, điều kiện học tập tốt. Không chừng các em còn giễu cợt, thời của mấy người lớn sao cổ lỗ sĩ “we we, pun we.” [2] Bù lại, chúng tôi có một thứ mà phụ huynh hôm nay luôn khao khát cho con em mình: lớp học không có bóng dáng bạo lực.
Tôi e ngại những tà áo trắng đã nhuộm màu tội ác, mỗi khi nghĩ về bạn, về trường chỉ còn là nỗi ân hận, ám ảnh suốt đời. Còn chúng tôi, có thể 20 năm, 30 năm hay hơn thế nữa nhưng khi nhớ về bạn cũ, trường cũ, tất cả đều trìu mến thốt lên: “Thương lắm áo dài ơi!”


Quang Đặng



[1] Trước 1975, giáo viên cấp 1 &2  gọi là “giáo sư”

 [2] Quê quá, buồn quá.

Thursday, October 31, 2013

CHÀO MỪNG CÔ GIÁO NGỌC


(Xin bấm vào hình để xem lớn hơn).
 

Vào chiều ngày Thứ Sáu 18-10-2013 tại San Jose, được mệnh danh là “thung lũng tình thương” đã hân hoan đón chào giáo sư Linda Nguyễn Thị Ngọc cùng phu quân là thầy Trần Xuân Thời viếng thăm đồng nghiệp, đồng môn cùng học trò cũ của cô sau hơn 40 năm xa cách. 
Cô Ngọc là cựu giáo sư trường thánh Giuse và cũng là cựu học sinh trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Phú Yên niên khóa 1955, năm thành lập trường. Cô là nữ sinh của trường Nguyễn Huệ và cũng là người phụ nữ đầu tiên của tỉnh Phú Yên đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vào năm 1959, sau đó cô đậu Tú Tài I, Tú Tài II, về dậy trường Thánh Giuse Tuy Hòa và sau này cô tốt nghiệp cao học Quốc Gia Hành Chánh ra làm công chức thời đệ nhị VNCH. Đến năm 1975, Cô di tản qua Hoa Kỳ, làm Thanh Tra Ngân Hàng suốt 35 năm tại tiểu bang Minnesota và mới vể hưu cách đây vài tháng.
Gia đình cựu học sinh Phú Yên tại bắc Cali tổ chức buổi họp mặt tại tư gia của anh chị Phạm Đức Hiền để đón mừng thầy cô; đây là lần đầu tiên chúng tôi được hân hạnh gặp mặt, ngồi bên cạnh thầy cô cùng hàn huyên tâm sự. Thầy cô tuy đã ngoài tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng dáng người rất phúc hậu, mạnh khỏe, tâm tình hiền hòa, vui vẻ, cởi mở và rất gần gũi, thân thiện với mọi người.
Sau khi tham dự đại hội CHSPY kỳ 4 tại nam Cali, cô Ngọc và thầy Thời đã tự lái xe đi một vòng qua nhiều địa phương để thăm bạn bè, thân hữu cùng học trò cũ của mình.
Chúng tôi rất kính phục và biết ơn tấm chân tình của cô. Mặc dù trong 3 ngày tham dự đại hội tại miền Nam cô đã gặp được nhiều người, tuy nhiên vẫn cảm thấy còn chưa đủ nên cô muốn được gặp tất cả những người mà vì lý do nào đó không tham dự đại hội được, trong đó có chúng tôi.
Anh Đặng Duy Nhượng mặc dù vừa “qua cơn mê” sau ca phẫu thuật, sức khỏe còn yếu cũng cố gắng tổ chức buổi họp mặt bỏ túi và đến tham dự.
Buổi họp mặt hơi bất ngờ, chỉ thông báo trước vài ngày và lại tổ chức không phải vào cuối tuần. Hơn nữa, các bạn vừa đi tham dự đại hội về, phần bận rộn nhiều công việc gia đình, phần sức khỏe còn uể oải nên số người tham dự không được đông đủ lắm. Chúng tôi ghi nhận có sự hiện diệm của thầy Ngô Càng Phương, cựu giáo sư trường Bồ Đề, anh Hà Ngọc Quỳnh, Hội Trưởng Hội Ái Hữu Phú Yên Bắc Cali, các anh chị Phạm Tiên, Phạm Hoàng, Trần Thế Hùng, Phạm Bích Diệp, Đặng Đình Khuê, Ngô Xuân Đức, Phạm Lan Anh, Lữ Hoàng & Danh, Đặng Duy Nhượng, Hoàng Thanh Phước và dĩ nhiên không thể thiếu gia chủ Phạm Đức Hiền và Diễm Hoa.
Bắc Cali đã bước vào Thu, ban ngày bầu trời vẫn còn trong sáng,  ánh nắng chan hòa nhưng chiều đến gió hiu hiu thổi về, lá cây xanh đã chuyển dần sang mầu vàng, bắt dầu rơi rụng, vương vãi trên lối đi. Không gian se se lạnh. Người tha hương lòng chợt cảm thấy man mác buồn, chạnh nhớ người thân, nhớ quê hương.
Trong căn phòng rộng rãi, không khí ấm cúng thân mật, sau buổi cơm chiều đạm bạc, chúng tôi cùng thầy cô quây quần bên nhau chuyện trò vui vẻ, chuyện xưa với những kỷ niệm êm đềm thời cắp sách, thời phấn trắng bảng đen được khơi dậy như mới hôm nào, làm cho lòng thầy trò chúng tôi chùng xuống, bâng khuâng. Hết chuyện dĩ vãng đến chuyện thời sự thế giới hôm nay, chuyện quê nhà, chuyện đại hội 4 tại miền Nam Cali thành công rực rỡ. Chuyện thầy hiệu trưởng Nguyễn Đức Giang kính yêu của chúng ta vì “đôi chân nũng nịu” nên thầy bất đắc dĩ vắng mặt kỳ đại hội này, thầy không đi được nhưng vẫn theo dõi tin tức sinh hoạt của gia đình CHSPY hải ngoại, gửi email trên diễn đàn khuyến khích chúng ta nên tiếp tục tổ chức đại hội kỳ V và thầy hứa sẽ tham dự. Chúng em xin cám ơn thầy rất nhiều. Mặc dù thầy ở rất xa, từ Đan Mạch nhưng luôn luôn lưu tâm và thăm hỏi đến tất cả học trò cũ trên toàn thế giới.
Căn nhà của anh chị Hiền có một phòng trống rộng rãi,  hầu như để dành riêng cho những buổi họp mặt, party. Chúng tôi thường gọi đùa nơi đây là “trụ sở” của gia đình Cựu Học Sinh và Ái Hữu Phú Yên. Mỗi khi có hội họp hay party đón chào thầy cô hay bạn bè, thân hữu từ các phương xa ghé lại thăm đồng môn, đồng hương tại thung lũng hoa vàng thì chỗ này là nơi lý tưởng nhất để tổ chức những cuộc hội ngộ. Cám ơn anh chị Hiền rất nhiều.
Nói đến chuyện đại hội kỳ 4, chúng tôi mặc dù đã chuẩn bị sẵn sàng lên đường nhưng đến giờ phút chót anh Nhượng “dân thể” bất an phải vào bệnh viện nên vắng mặt, đúng là “ý trời”, thật đáng tiếc. Tuy không được tham dự nhưng qua những hình ảnh và video clip post lên diễn đàn CHSPY chúng tôi nhận thấy đại hội rất thành công. Rất ngưỡng mộ và xin cám ơn các bạn trẻ đã bỏ nhiều công sức, tài chánh, chuẩn bị cả năm trời để có một kỳ họp mặt CHSPY thế giới thật vui vẻ, ý nghĩa và lưu lại nhiều kỷ niệm đẹp trong lòng thầy và trò chúng ta.
Chúng tôi kêu gọi quí anh chị ở các địa phương khác tiếp nối truyền thống, mạnh dạn đứng ra tổ chức những kỳ đại hội kế tiếp để chúng ta lại có dịp hội ngộ và du lịch đó đây.
Nhân dịp này, xin cho phép chúng tôi (Duy Nhượng & Thanh Phước) chân thành cám ơn đến quý thầy cô và các bạn ở hải ngoại cũng như ở Việt Nam khi nghe được tin anh Nhượng bị bệnh đã ân cần gọi phone, gửi thư, gửi email thăm hỏi và cầu chúc mau bình phục. Một lần nữa chúng tôi xin cám ơn tấm chân tình và lòng thương mến của quý thầy cô và các bạn.
Xin cám ơn Thượng Đế đã ban ơn và che chở cho anh “tai qua nạn khỏi”, sức khỏe của anh Duy Nhượng nay đã dần dần hồi phục.
Buổi họp mặt “bỏ túi” đón mừng cô Linda Ngọc được tổ chức tuy đơn sơ nhưng đầy ắp tình thầy trò đã kết thúc trong sự luyến tiếc, bịn rin chia tay. Ra về, trong lòng mọi người đều vui vẻ, ước mong thầy trò được gặp lại trong đại hội kỳ 5!!!.

San Jose, ngày 27 tháng 10 năm 2013
Hoàng Thanh Phước

 Xin xem thêm một số hình ảnh buổi họp mặt:











































































Thursday, August 1, 2013

THƯ CHO BẠN (2)

Hằng mến,
Tôi nhớ lúc còn ở tiểu học, làm môn sinh của thầy Đào Huy Huân, cụ rất dữ đòn, đứa nào đọc vocabulaire không thuộc là bị ăn roi quắn đít, chui xuống gầm bàn hay chạy nấp sau bảng đen cụ cũng không tha. Cây roi rõ dài, đánh mãi mà không gãy. Đám học trò nhỏ ghét và sợ cây roi đó hơn mọi thứ trên đời. Kể cũng tức cười, học trò tiểu học đọc chữ Việt chưa rành lấy gì để học tiếng Tây tiếng u!

Thầy rất khó tính, nhưng chúng mình đều biết cụ là một ông Thầy rất siêng năng, tận tâm và thương học trò. Thầy lúc nào cũng muốn học trò giỏi bằng Thầy. Nhưng Thầy vẫn theo lối xưa, “thương cho roi cho vọt”.  Năm cuối cùng của bậc tiểu học, ngày tan trường, Thầy ôm từng đứa học trò, mắt đỏ hoe mếu máo nói: “Các trò phải chăm chỉ học hành nghe, kẻo người ta chê Thầy không biết dạy dỗ.” Chúng tôi nào có biết gì, chỉ mừng đã thoát nạn, không còn bị Thầy dậy dỗ khắc nghiệt nữa.

Hồi mới lên trung học có mấy bà Cô từ trong Nam ra dạy, mấy Cô nói tiếng Nam rặt, nghe rất lạ và hay hay. Mấy đứa chúng tôi hay nấp sau lưng nhại lại nho nhỏ "dzạ em hổng biết gì hết trơn á, ngày mai có wuỡng mời cô lại nhà tụi em chơi, chỉ bài cho tụi em".

Này Hằng, còn nhớ Thầy Nguyễn Văn Chút dạy Việt Văn không? Thầy nói chuyện rất có duyên và hay kể chuyện ngoài lề cho bọn học trò nhà quê chúng mình ôm bụng cười không? Có lần thầy ra đề tài luận văn: “Hãy nói về giấc mơ tương lai của em”. Tuấn nói nhỏ với tôi, hắn muốn trở thành một Thầy giáo ngon lành như Thầy Chút vậy để giật le với mấy cô nho nhỏ xinh xinh ngồi bàn đầu ấy. Tôi nói khi cậu làm thầy giáo thì mấy cô đâu còn học đây nữa.
“Ừ hé”
Hắn luôn ngây thơ như vậy đó.

Tôi đã viết về giấc mơ của tôi là muốn trở thành một văn sĩ. Thầy phê trong bài viết như sau:
 “Viết văn cũng như làm thơ, Thầy có thể dạy em vần bằng, trắc của thơ Đường Luật, nhưng để làm một bài thơ, thì cần trái tim của em!”

Tôi chỉ được điểm trung bình cho bài luận văn đó thôi. Thời thế và hoàn cảnh đẩy tôi trôi mãi trên dòng đời, tôi chỉ cố vùng vẫy để sống còn và quên khuấy đi giấc mơ thời thơ ấu của mình.

Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò, đám con trai chúng tôi cũng không ngoại lệ.  Có lần, cả lớp nói chuyện ồn ào nghịch ngợm, nhất là mấy cậu lớn còn làm máy bay giấy ném vào đám học trò con gái ngồi phía trước trong khi chờ cô Hượt tới dạy. Thầy Hưng Tổng Giám Thị, rất nghiêm khắc, đi ngang và bắt phạt cả lớp đứng úp mặt vào tường. Hôm ấy, giờ nghỉ trưa, anh Thành họp lũ học trò nghịch ngợm chúng tôi lại, chỉ có dăm đứa thôi để tổ chức một trò chơi liều lĩnh, táo bạo. Chúng tôi đứng khuất vào một bức tường giữa hai dãy phòng học và bàn kế hoạch phá Thầy Hưng. Anh Thành lên tiếng trước: “Đứa nào dám xì lốp xe đạp
Thầy Hưng, sáng mai tao sẽ thưởng một gói xôi vò?” Cả bọn chúng tôi đứng im khe. Anh nhìn một lượt từng đứa một rồi nói: “Nhát thế mà đòi làm anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ”. Nguyễn Hóa bèn hiên ngang dơ tay lên: “Tớ làm”. Anh Thành liền chia nhiệm vụ: “Thằng Hoàng và thằng Tuấn đứng sớ rớ gần phòng Tổng Giám Thị canh me Thầy Hưng, nếu thấy động tĩnh gì thì giơ tay lên gãi đầu, tao sẽ dòm chừng. Thằng Hóa vừa xì lốp xe vừa nhìn tao, nếu tao chống một tay lên hông thì cứ hành động, mà hai tay lên hông là chạy cho lẹ, tất cả hiểu chưa? Đứa nào mét Thầy, tao xí không cho chơi u quạ nữa”. Chúng tôi sợ Thầy nhiều lắm, nhưng nghĩ đến màn không được chơi chung với lũ Trời đánh này thì còn sợ hơn. Hai bánh xe đạp của Thầy Hưng bị xì không còn chút hơi, đúng như dự tính.

Buổi chiều chúng tôi núp trong phòng học, mở hé cửa ra nhìn. Trước tiên, Thầy dắt xe ra, cưỡi lên đạp, chợt thấy cả hai bánh đều xẹp lép, Thầy đứng tần ngần một chút rồi bắt đầu bơm. Buổi chiều nắng vẫn còn cao, Thầy vừa bơm vừa quẹt mồ hôi trán, Chúng tôi vừa buồn cười vừa hối hận. Thầy bơm bánh xe một lúc rồi nhấc lên quay từng bánh và áp lỗ tai gần xe để nghe ngóng, chắc là kiểm soát xem có bị lủng chỗ nào không. Rồi bơm, rồi nghe ngóng, cứ thế nhiều lần, cuối cùng thầy lắc đầu, đoán là đám học trò nào phá phách rồi đây. Chúng tôi sợ run, chui cả vào góc phòng không dám nhìn trộm nữa. Giá lúc đó có ai mở cửa bước vào, chắc cả đám sẽ ù té bỏ chạy. Sáng hôm sau, có giờ công dân giáo dục với Thầy, cả đám chúng tôi ngồi im thin thít. Thành và Hóa là hai tay quậy nhất trong lớp mà cũng ngồi nín khe. Giờ học đi qua nặng nề và chậm chạp, cho đến khi nghe tiếng kẻng tan trường, tôi thở phào nhẹ nhõm, như một tử tù vừa được phóng thích.
Bây giờ tôi vẫn là một “Tử Tù” nhưng chưa được phóng thích, bạn cũng biết ai là chúa ngục phải không?
Chúc Hằng một ngày hạnh phúc.
Hoàng

oo00oo

Hoàng mến,

Nói đến giai đoạn Tiểu Học, Hoàng nhắc đến Thầy Huân ở trong khu “Bắc Kỳ Di Cư”, làm tôi hình dung ngay ra Thầy, lớn tuổi, nhỏ người, lại còn hơi khòm và đúng như Hoàng nói, Thầy rất nghiêm khắc với học trò.  Tôi  học không đến nỗi tệ nên thỉnh thoảng được bảng danh dự và vinh hạnh giữ sổ cho thầy, mặc dù là học trò cưng của thầy nhưng mỗi lần đứng gần thầy khi đến nhà Thầy lấy sổ, tôi vẫn sợ chết khiếp.

Khi lên đến Trung Học tương đối các Thầy Cô còn rất trẻ, có người dễ chừng chỉ hơn bọn mình vài tuổi. Vì trường mình ở miền Trung xa xôi, nhiều khi không được cung cấp đủ giáo sư nên có một số Thầy Cô phải dạy mấy môn một lúc.

Ngoài những thầy ở địa phương như Thầy Nguyễn Đảm, Nguyễn Bá Quát, Sư Huynh Mai văn Hùng, và mấy Giáo Sư từ Saigon đến như Thầy Hàn Huy Quang, Nguyễn Đức Quang, Trần Tiến Toản, Nguyễn Khắc Truyền,  Bộ Giáo Dục gửi ra một loạt các thầy, phần lớn là người Huế như Cô Tôn Nữ Minh Châu, Thầy Đặng Văn Bình, Nguyễn Văn Chút, Bửu Đôn, Dương Đình Đống, Lê Văn Gạch, Lê Ngọc Giáng, Nguyễn Văn Hàng, Lê Quang Khanh, Lê Văn Lâm, Nguyễn Đức Lâm, Nguyễn Như Lộc, Trần Viết Ngạc, Hồ Văn Phú, Trần Xuân Phúc,  Tôn Thất Hoàng hỏi tôi có nhớ Thầy Chút không hả? làm sao mà quên được ông thầy dạy Việt Văn có duyên đó, lúc nào cũng pha trò cho học sinh cười rũ rượi.
Tôi nhớ Thầy Hướng cũng dạy Việt Văn và có lần thầy đọc một đoạn văn của một bạn học trong lớp viết: “đứng trên đồi cao, phóng hai con mắt xuống thung lũng…”, thầy bảo “anh nên viết “phóng tầm mắt xuống” chứ anh “phóng hai con mắt xuống” thì còn mắt đâu để nhìn”, nói xong Thầy phì cười và bọn học trò cũng bò ra mà cười. 

Có một người mà tôi không quên được là Thầy Toản dạy môn Toán, tôi còn nhớ mấy lần làm “toán chạy”, khi tôi làm trúng hết, Thầy Toản dõng dạc bảo là “bà ốc tiêu kia, bà đuợc 10 điểm ngon như óc chó nhá!”, những chữ “ốc tiêu và ngon như óc chó” là “trade mark” của Thầy Toản đấy, Hoàng nhớ không?

Thầy Ngạc vừa dạy Sử, Địa vừa làm Thầy Hường Dẫn của lớp mình, vàthỉnh thoảng dẫn tụi mình đi cắm trại Rừng Dương, Mỹ Á vì thế Thầy rất thân với học trò, bây giờ lâu lâu Thầy vẫn viết thư thăm gia đình tôi. 

Những cuộc họp mặt ngoài trời, nấu nướng ăn chung, tối lại hát hò, làm cả Thầy lẫn trò gắn bó và thân thiết nhau hơn.
Riêng Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đức Giang được học trò thương vì Thầy rất gần gũi với tụi mình, nhất là thời gian gần đây, trong 3 lần tổ chức Đại Hội Cựu Học Sinh Phú Yên  ở Nam và Bắc California rồi Houston (Texas), dù ở rất xa, (Đan Mạch, Âu Châu), lần nào Thầy cũng qua tham dự, sát cánh với học trò và trợ lực với Ban Tổ Chức, có lần thầy còn lên trình diễn văn nghệ nữa cơ. Chúng mình tất cả đều cầu mong thầy luôn được dồi dào sức khỏe để còn tiếp tục hướng dẫn và ủng hộ học trò của thầy.
Bạn cũng nhắc đến những cô giáo ở trong Nam ra dạy, các cô Cúc, Cô Hoa, Cô Hượt  đến từ Saigon với những tà áo tha thướt, lạ mắt và rất đẹp, như đem một luồng gió mới mát dịu từ nơi văn minh đến cho ngôi trường Nguyễn Huệ nhỏ bé, hiền hòa của chúng mình.  Tôi nhớ là Cô Cúc hay mặc áo dài màu xanh nên thường bị đám học trò con trai, trong đó có cả ông anh ruột của tôi, đi qua đi lại thỉnh thoảng hát câu “màu áo xanh là màu anh trót yêu” trong bài hát “Thu Quyến Rũ” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, tuy hát nho nhỏ nhưng cũng đủ cho mọi người và Cô Cúc nghe thấy, Cô ấy chắc vừa phiền vừa sướng trong bụng.  Học trò ngày ấy mà cũng bạo thế cơ đấy.
Mỗi lần nghĩ đến các Thầy Cô là mình lại không khỏi liên tưởng đến câu người xưa đã nói “không thầy đố mầy làm nên”, quả thật không sai.  Nếu không nhờ các Thẩy Cô đã xây dựng một nền tảng căn bản tốt đẹp trong bọn chúng mình thì làm sao mình có ngày nay.
Thôi, kể về thầy cô và bạn bè như vậy chắc cũng đủ rồi, càng nói nhiều càng lưu luyến thuở học trò, mặc dù phài lo lắng chuyện học hành thi cử, nhưng đó là thời gian êm đềm, trong sáng và hạnh phúc nhất của mọi người.
Thư tới Hoàng muốn nói chuyện gì nhỉ?
Trong khi chờ đợi câu trả lời của Hoàng, tôi cầu mong bạn không bị “cai ngục” hành hạ như ở Guantanamo Bay, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, nếu Hoàng tình nguyện xin làm “tử tù”, Trời cũng không cứu được chứ lời cầu xin của tôi thì đi đến đâu.
Hằng

oo00oo

Hằng mến,
Chúng ta thật may mắn lớn lên và học hành trong một môi trường lành mạnh, tư do, nhân bản, lấy giáo điều của Khổng Mạnh làm châm ngôn: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, nhất tự vi sư bán tự vi sư, và quan trọng hơn cả “Tiên học lễ, hậu học văn”. Xã hội một thời tương đối quy củ, thầy ra thầy và trò ra trò. Các Thầy Cô đã trang bị cho chúng ta một kiến thức căn bản và một lương tâm trong sáng để xây dựng gia đình và xã hội vững chắc, ngay thẳng. Những công ơn ấy phần lớn do học đường và các bậc thầy đã bỏ bao nhiêu tâm huyết để đào tạo nhiều thế hệ người trẻ miền Nam Việt Nam thời đó. Thế hệ chúng ta lớn lên thành nhân, ngẩng cao mặt hãnh diện là những cựu học sinh Nguyễn Huệ cũng nhờ sự giáo dục tân tụy của các Thầy Cô, đó là điều không thể chối cãi được.
Xin vinh danh các nhà giáo, các vị thầy khả kính của chúng ta, nhất là các Thầy Cô trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa!
“Người ta trồng cỏ trồng cây,
Thầy Cô Nguyễn Huệ về đây trồng người”
Chứ không như bây giờ, xã hội không lấy đạo đức làm đầu cho nên xẩy  ra bao nhiêu hệ lụy. Cho nên, thêm một lý do nữa chúng ta những  hậu duệ của Quang Trung Nguyễn Huệ phải nhớ công ơn của các Thầy Cô Nguyễn Huệ đã trồng được một đám rừng “Nhân” rậm rạp, tươi tốt, mạnh khỏe, ngay thẳng trong đó có tôi và Hằng, và những Hạnh, Tấm, Cẩm, Chính, Thơm, Nhượng, Hiền, Phổ, Phích, Hiền và biết bao nhiêu nữa kể ra không hết.
Tôi cũng cám ơn Trời đã cho chúng ta sống trên một đất nước tự do, nhân bản để con cháu chúng ta được hấp thụ một nền giáo dục lành mạnh, dựa trên công bằng bác ái.
Chúc Hằng những ngày rong chơi hạnh phúc.
Hoàng